Theo Luật Các tổ chức tín dụng 2024 sửa đổi, bổ sung năm 2025
Bài viết phân tích quyền thu giữ tài sản bảo đảm của ngân hàng theo quy định tại Điều 198a Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2025, trên cơ sở thực tiễn xử lý tranh chấp và góc nhìn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên vay, bên thế chấp.
1. Quyền thu giữ tài sản bảo đảm của ngân hàng có phải là quyền đương nhiên?
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2025 (Luật số 96/2025/QH15) đã bổ sung Điều 198a để quy định cụ thể về quyền thu giữ tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng.
Theo cấu trúc của Điều 198a, có thể khẳng định rằng quyền thu giữ tài sản bảo đảm của ngân hàng không phải là quyền đương nhiên, mà chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định và theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
2. Điều kiện để ngân hàng được thu giữ tài sản bảo đảm
Theo khoản 2 Điều 198a Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2025, tổ chức tín dụng chỉ có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
(1) Khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 299 của Bộ luật Dân sự (1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; hoặc 2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; hoặc 3. Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định)
(2) Hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
(3) Biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
(4) Tài sản bảo đảm không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền; không đang bị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật; không thuộc trường hợp bị tạm đình chỉ xử lý theo quy định của pháp luật về phục hồi, phá sản;
(5) Tài sản bảo đảm được thu giữ phải đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ;
(6) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ đã thực hiện nghĩa vụ công khai thông tin theo quy định tại khoản 3 hoặc khoản 4 Điều này.

Như vậy, chỉ cần thiếu một trong các điều kiện nêu trên, tổ chức tín dụng không có cơ sở pháp lý để thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm.
3. Thủ tục công khai thông tin trước khi thu giữ tài sản bảo đảm
3.1. Đối với tài sản bảo đảm là bất động sản
Khoản 3 Điều 198a quy định: Chậm nhất 15 ngày trước ngày tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm là bất động sản, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ phải thực hiện thủ tục công khai thông tin về thời gian, địa điểm thu giữ tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ.
Việc công khai thông tin được thực hiện dưới các hình thức sau đây:
- Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình;
- Gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan Công an cấp xã nơi có tài sản bảo đảm;
- Niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ theo hợp đồng bảo đảm và trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bảo đảm;
- Thông báo cho bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm (nếu có) theo phương thức thông báo đã thỏa thuận tại hợp đồng bảo đảm.

3.2. Đối với tài sản bảo đảm là động sản
Khoản 4 Điều 198a quy định: Trước khi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm là động sản, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ phải thực hiện thủ tục công khai thông tin về tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ.
4. Vai trò của chính quyền địa phương trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm
Khoản 5 Điều 198a quy định: Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan Công an cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm.
Trường hợp bên bảo đảm không hợp tác hoặc không có mặt theo thông báo, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ tài sản bảo đảm.
Quy định này cho thấy sự tham gia của chính quyền địa phương không làm phát sinh quyền thu giữ, mà chỉ nhằm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thực hiện.

5. Giới hạn pháp lý trong việc thu giữ tài sản bảo đảm
Khoản 6 Điều 198a quy định: Trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ, tổ chức được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản này không được áp dụng các biện pháp vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Khoản 7 Điều 198a tiếp tục quy định: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ phải xây dựng và ban hành quy định nội bộ về trình tự, thủ tục thực hiện thu giữ tài sản bảo đảm, bao gồm cả quy định khi thực hiện việc ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm quy định tại khoản 6 Điều này.
6. Nhận định pháp lý
Từ toàn bộ các quy định nêu trên, có thể khẳng định rằng Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2025 không trao cho ngân hàng quyền thu giữ tài sản bảo đảm một cách tuyệt đối.
Quyền thu giữ chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ điều kiện, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục, và được đặt trong cơ chế kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên vay, bên thế chấp.
7. Kết luận
Ngân hàng chỉ được thu giữ tài sản bảo đảm khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Điều 198a Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2025 và thực hiện đúng trình tự, thủ tục luật định.
Mọi trường hợp thu giữ không đáp ứng đầy đủ điều kiện hoặc thực hiện sai trình tự, thủ tục đều có thể làm phát sinh tranh chấp và trách nhiệm pháp lý liên quan.

Thông tin thương hiệu
Công ty Luật TNHH HT Legal VN (HT Legal VN Law Firm) là tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực luật sư bảo vệ bên vay, bên thế chấp ngân hàng, tranh chấp tín dụng ngân hàng, giao dịch bảo đảm và thi hành án dân sự.
Với đội ngũ luật sư trực tiếp tham gia giải quyết nhiều vụ việc liên quan đến bên vay, bên thế chấp trong quan hệ tín dụng với ngân hàng, HT Legal VN tập trung bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng trên cơ sở đúng quy định pháp luật, đúng trình tự thủ tục và cẩn trọng trong từng phương án xử lý.
HT Legal VN theo đuổi triết lý hành nghề: Giải pháp đúng – Hiệu quả – Tín thác, đồng hành cùng khách hàng không chỉ trong giải quyết tranh chấp, mà còn trong phòng ngừa rủi ro pháp lý lâu dài.
__________________________________________________________________________
CÔNG TY LUẬT TNHH HT LEGAL VN
Đồng hành pháp lý – Chuyên sâu, tận tâm, hiệu quả
HT Legal VN hân hạnh được đồng hành và cung cấp dịch vụ pháp lý cho Quý khách hàng theo địa chỉ sau:
Văn phòng Tp. Hồ Chí Minh:
• VP1: 12 Hẻm 602/37 Điện Biên Phủ, phường Thạnh Mỹ Tây, TP. Hồ Chí Minh
• VP2: 207B Nguyễn Phúc Chu, phường Tân Sơn, TP. Hồ Chí Minh
Văn phòng Hà Nội:
• VP3: 5 Ngách 252/115 phố Tây Sơn, phường Đống Đa, TP. Hà Nội
📧 Email: [email protected]
📞 Hotline: 09 4517 4040 – 09 6768 7086

Luật sư bảo vệ cho bên vay bên thế chấp ngân hàng