Phân loại 5 nhóm nợ theo Thông tư 31/2024/TT-NHNN – Hiểu đúng từng nhóm để tránh rủi ro pháp lý
Thông tư 31/2024/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 2024 quy định về phân loại tài sản có trong hoạt động ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàngm chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
1. Ý nghĩa pháp lý của việc phân loại nợ theo Thông tư 31/2024/TT-NHNN
Theo Điều 10 Thông tư 31/2024/TT-NHNN, các khoản nợ phát sinh trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng được phân loại thành 05 nhóm, tương ứng với mức độ rủi ro tăng dần.
Việc phân loại nợ là căn cứ để:
- Đánh giá chất lượng tín dụng;
- Xác định nghĩa vụ trích lập dự phòng;
- Ghi nhận nợ xấu;
- Và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận tín dụng của khách hàng vay.
a. Nhóm 1 – Nợ đủ tiêu chuẩn
Theo Điều 10 Thông tư 31/2024/TT-NHNN, Nhóm 1 là các khoản nợ được đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi đúng hạn.
Nhóm này bao gồm các khoản nợ:
- Đang trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn;
- Quá hạn trong thời gian ngắn theo tiêu chí pháp luật quy định;
- Được cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhưng đáp ứng đầy đủ điều kiện để giữ nguyên nhóm nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Nhóm 1 phản ánh tình trạng tín dụng bình thường, chưa phát sinh dấu hiệu rủi ro đáng kể.
b. Nhóm 2 – Nợ cần chú ý
Nhóm 2 là các khoản nợ đã xuất hiện dấu hiệu rủi ro, nhưng chưa được xác định là nợ xấu theo quy định pháp luật.
Các khoản nợ thuộc nhóm này thường là:
- Nợ quá hạn theo tiêu chí thời gian của pháp luật;
- Nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu nhưng không đáp ứng đầy đủ điều kiện giữ nguyên nhóm nợ;
- Khoản nợ có dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ trong tương lai.
Nhóm 2 được xem là giai đoạn cảnh báo, nếu không được kiểm soát tốt, khoản nợ có thể nhanh chóng bị chuyển sang nhóm nợ xấu.

c. Nhóm 3 – Nợ dưới tiêu chuẩn
Theo quy định của Thông tư 31/2024/TT-NHNN, các khoản nợ thuộc Nhóm 3 được xác định là nợ xấu.
Theo khoản 5 Điều 3 Thông tư 31/2024/TT-NHNN:
“Nợ xấu (NPL) là nợ xấu đang hạch toán trong bảng cân đối kế toán (nợ xấu nội bảng), gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.”
Nhóm 3 bao gồm các khoản nợ:
- Quá hạn ở mức cao theo quy định;
- Đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhưng không còn đáp ứng điều kiện an toàn;
- Khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi không còn được đánh giá là chắc chắn.
Việc một khoản nợ bị xếp vào Nhóm 3 đồng nghĩa với việc khách hàng bắt đầu chịu các hệ quả pháp lý của nợ xấu.
d. Nhóm 4 – Nợ nghi ngờ
Nhóm 4 là các khoản nợ được đánh giá có khả năng thu hồi thấp, rủi ro mất vốn ở mức cao.
Các khoản nợ thuộc nhóm này thường:
- Quá hạn trong thời gian dài;
- Đã nhiều lần cơ cấu lại thời hạn trả nợ;
- Có căn cứ cho thấy khách hàng không còn khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính.
Nhóm 4 phản ánh tình trạng tín dụng suy giảm nghiêm trọng, đòi hỏi tổ chức tín dụng phải áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro chặt chẽ hơn.
e. Nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn
Nhóm 5 là nhóm nợ có mức độ rủi ro cao nhất, bao gồm các khoản nợ được đánh giá gần như không còn khả năng thu hồi.
Các khoản nợ thuộc nhóm này thường:
- Quá hạn kéo dài;
- Khách hàng mất khả năng thanh toán;
- Tài sản bảo đảm không đủ hoặc không còn khả năng xử lý để thu hồi nợ.
Việc bị xếp vào Nhóm 5 gần như đồng nghĩa với việc khả năng tiếp cận tín dụng trong hệ thống ngân hàng bị hạn chế nghiêm trọng trong thời gian dài.
2. Lưu ý quan trọng về chuyển nhóm nợ
Theo khoản 1 Điều 9 Thông tư 31/2024/TT-NHNN:
“Toàn bộ dư nợ và số dư cam kết ngoại bảng của một khách hàng tại một ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải được phân loại vào cùng một nhóm nợ và là nhóm nợ có mức độ rủi ro cao nhất trong các nhóm nợ của các khoản nợ và/hoặc cam kết ngoại bảng của khách hàng đó.”
Theo nguyên tắc này: Chỉ một khoản nợ bị chuyển nhóm cao hơn, có thể kéo theo toàn bộ các khoản tín dụng còn lại của cùng khách hàng.
Đây là rủi ro pháp lý quan trọng mà doanh nghiệp vay vốn cần đặc biệt lưu ý.

Kết luận
Phân loại 5 nhóm nợ theo Thông tư 31/2024/TT-NHNN không chỉ là vấn đề kỹ thuật nội bộ của ngân hàng, mà là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến vị thế tín dụng và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.
Việc hiểu đúng mình đang ở nhóm nợ nào và vì sao bị xếp vào nhóm đó là cơ sở để doanh nghiệp chủ động làm việc với tổ chức tín dụng và phòng ngừa rủi ro pháp lý phát sinh.
Trong hoạt động tín dụng, rủi ro lớn nhất không nằm ở khó khăn tạm thời, mà nằm ở việc không nhận diện đúng vị trí pháp lý của mình trong hệ thống phân loại nợ.
Lưu ý: Nội dung bài viết mang tính phân tích và diễn giải quy định pháp luật. Việc áp dụng cần căn cứ trực tiếp vào văn bản pháp luật và hồ sơ cụ thể.
_____________________________________________________________
CÔNG TY LUẬT TNHH HT LEGAL VN
Đồng hành pháp lý – Chuyên sâu, hiệu quả, tín thác
HT Legal VN hân hạnh được đồng hành và cung cấp dịch vụ pháp lý cho Quý khách hàng theo địa chỉ sau:
Văn phòng Tp. Hồ Chí Minh:
• VP1: 12 Hẻm 602/37 Điện Biên Phủ, phường Thạnh Mỹ Tây, TP. Hồ Chí Minh
• VP2: 207B Nguyễn Phúc Chu, phường Tân Sơn, TP. Hồ Chí Minh
Văn phòng Hà Nội:
• VP3: 5 Ngách 252/115 phố Tây Sơn, phường Đống Đa, TP. Hà Nội
📧 Email: [email protected]
📞 Hotline: 09 4517 4040 – 09 6768 7086

Luật sư bảo vệ cho bên vay bên thế chấp ngân hàng
Luật sư quản lý nợ cơ cấu nợ và xử lý nợ cho doanh nghiệp và cá nhân