Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT ngày 11/8/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có hiệu lực từ 26/9/2026, quy định mới về điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam. Một trong những nội dung đáng chú ý là cơ chế miễn thực hiện thủ tục công nhận văn bằng.
Đây là vấn đề cần được hiểu chính xác.
Miễn thực hiện thủ tục công nhận không đồng nghĩa với việc mọi văn bằng nước ngoài đều tự động được sử dụng mà không cần kiểm tra. Ngược lại, Thông tư 65 quy định rõ trách nhiệm kiểm tra, xác minh tính hợp pháp, hợp lệ của văn bằng vẫn có thể được thực hiện khi cần thiết.
Vì vậy, đối với người có văn bằng nước ngoài, câu hỏi không chỉ là:
“Tôi có phải xin công nhận văn bằng không?”
Mà còn phải xác định:
“Văn bằng của tôi có thực sự thuộc phạm vi được miễn hay không, và nếu được miễn thì cần chuẩn bị gì để sử dụng, xác minh văn bằng?”
I. THEO QUY ĐỊNH CŨ, NHỮNG TRƯỜNG HỢP NÀO ĐƯỢC MIỄN?
Theo khoản 1 Điều 5 Thông tư 13/2021/TT-BGDĐT, trước khi Thông tư 65 có hiệu lực, ba nhóm văn bằng được quy định thuộc diện không phải thực hiện thủ tục công nhận.
- Nhóm thứ nhất là văn bằng thuộc phạm vi áp dụng của hiệp định, thỏa thuận về tương đương văn bằng, công nhận lẫn nhau hoặc điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam đã ký kết và được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố.
- Nhóm thứ hai là văn bằng của người được Bộ Giáo dục và Đào tạo cử đi học bằng ngân sách Nhà nước.
- Nhóm thứ ba là một số văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp theo chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài tại Việt Nam đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo điều kiện luật định.
Tuy nhiên, quy định cũ không dừng ở việc văn bằng thuộc một trong ba nhóm này.
Khoản 2 Điều 5 tiếp tục quy định: “Văn bằng quy định tại khoản 1 Điều này phải đáp ứng các yêu cầu sau:”
Sau đó đặt ra các yêu cầu liên quan đến tên văn bằng, thời gian đào tạo và điều kiện tuyển sinh, hình thức đào tạo, trong đó trường hợp trực tiếp kết hợp trực tuyến thì thời lượng trực tuyến không quá 30% tổng thời lượng chương trình.
Như vậy, theo cơ chế cũ, việc thuộc một nhóm tại khoản 1 Điều 5 chưa phải là điểm dừng của việc xem xét diện miễn.
II. THÔNG TƯ 65/2026 QUY ĐỊNH LẠI NHỮNG NHÓM ĐƯỢC MIỄN
Khoản 4 Điều 6 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT quy định hai nhóm chính được miễn thực hiện thủ tục công nhận.
Nhóm thứ nhất: văn bằng thuộc phạm vi áp dụng của hiệp định, thỏa thuận công nhận lẫn nhau về văn bằng hoặc điều ước quốc tế có liên quan đến công nhận văn bằng mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.
Nhóm thứ hai: văn bằng của cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người đi học bằng ngân sách nhà nước được Bộ Giáo dục và Đào tạo cử đi học và tiếp nhận về nước.
Đây là một thay đổi cần đọc kỹ khi so sánh với Điều 5 của Thông tư 13/2021.
Trước hết, khoản 4 Điều 6 mới không tiếp tục liệt kê chương trình liên kết đào tạo tại Việt Nam thành một nhóm miễn riêng như điểm c khoản 1 Điều 5 cũ. Thay vào đó, Thông tư 65 có quy định riêng tại khoản 3 Điều 3 về điều kiện công nhận đối với văn bằng phát sinh từ hoạt động giáo dục, đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết đào tạo hoặc phân hiệu tại Việt Nam.
Thứ hai, đối với nhóm văn bằng thuộc điều ước quốc tế, quy định mới sử dụng phạm vi hiệp định, thỏa thuận công nhận lẫn nhau hoặc điều ước quốc tế có liên quan đến công nhận văn bằng mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập. Trong chính điều khoản miễn mới cũng không còn cụm từ “do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố” như điểm a khoản 1 Điều 5 cũ. So sánh này thể hiện trực tiếp từ câu chữ của hai văn bản.
Đáng chú ý hơn, khoản 4 Điều 6 mới không lặp lại bộ ba yêu cầu riêng về tên văn bằng, thời gian đào tạo và điều kiện tuyển sinh, giới hạn 30% đào tạo trực tuyến như khoản 2 Điều 5 Thông tư 13/2021.
Đây là một thay đổi rõ về cấu trúc quy định.
Tuy nhiên, không nên từ đó suy diễn rằng mọi vấn đề liên quan đến văn bằng thuộc nhóm được miễn đều không còn phải xem xét.
Chính Thông tư mới vẫn đặt ra vấn đề kiểm tra, xác minh văn bằng.

III. MIỄN THỦ TỤC KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ MIỄN XÁC MINH
Đây có lẽ là câu quan trọng nhất đối với người sử dụng văn bằng thuộc diện miễn.
Khoản 4 Điều 6 Thông tư 65 quy định:
“Việc miễn thực hiện thủ tục công nhận văn bằng không bao gồm việc kiểm tra, xác minh tính hợp pháp, hợp lệ của văn bằng.”
Thông tư tiếp tục giao trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận văn bằng thực hiện việc kiểm tra, xác minh khi cần thiết theo quy định.
Vì vậy cần phân biệt hai khái niệm:
Công nhận văn bằng là một cơ chế pháp lý.
Kiểm tra, xác minh văn bằng là việc xác định văn bằng có thật, được cấp hợp pháp, hợp lệ và phù hợp với thông tin được xuất trình hay không.
Một văn bằng được miễn thực hiện thủ tục công nhận không vì thế mà trở thành văn bằng không cần kiểm tra về nguồn gốc và tính xác thực.
Điểm này đặc biệt quan trọng đối với văn bằng được cấp từ nhiều năm trước, văn bằng có tên học vị khác với cách gọi tại Việt Nam, cơ sở cấp bằng đã thay đổi tên hoặc tổ chức lại, hoặc dữ liệu điện tử về người học chưa có sẵn.
IV. VĂN BẰNG THUỘC HIỆP ĐỊNH QUỐC TẾ: KHÔNG CHỈ NHÌN VÀO TÊN QUỐC GIA
Một sai lầm có thể xảy ra là suy luận:
“Việt Nam có hiệp định về văn bằng với nước này, vậy mọi văn bằng của nước đó đều được miễn.”
Không nên xác định theo cách đó.
Khoản 4 Điều 6 dùng cụm từ “văn bằng thuộc phạm vi áp dụng” của hiệp định, thỏa thuận hoặc điều ước quốc tế.
Do đó, muốn xác định một văn bằng cụ thể có được miễn hay không phải quay lại chính điều ước quốc tế đó.
Có điều ước quy định theo trình độ.
Có điều ước gọi tên cụ thể từng loại văn bằng.
Có trường hợp phạm vi áp dụng phụ thuộc vào việc văn bằng có phải văn bằng chuẩn quốc gia hay không.
Cũng có thể phát sinh vấn đề về ngày cấp văn bằng so với thời điểm điều ước có hiệu lực hoặc quy định chuyển tiếp của chính điều ước.
Do đó:
Có điều ước quốc tế chưa đủ. Phải xác định chính văn bằng đang xem xét có nằm trong phạm vi điều ước đó hay không.
Đây là bước rất quan trọng trước khi kết luận một hồ sơ thuộc diện miễn.
V. MIỄN THỦ TỤC CŨNG KHÔNG CÓ NGHĨA TỰ SUY RA MỨC TƯƠNG ĐƯƠNG
Nếu một hiệp định quy định trực tiếp một loại văn bằng nước ngoài tương đương với một trình độ cụ thể của Việt Nam, việc xác định giá trị cần dựa vào chính điều khoản đó.
Nhưng khoản 4 Điều 6 Thông tư 65 không tự mình biến mọi văn bằng thuộc diện miễn thành một trình độ tương đương cụ thể tại Việt Nam.
Vì vậy, khi sử dụng văn bằng thuộc điều ước quốc tế, phải đọc đúng nội dung điều ước:
Điều ước công nhận văn bằng nào?
Công nhận ở mức nào?
Quy định “tương đương” hay chỉ quy định về việc công nhận?
Có điều kiện hoặc giới hạn phạm vi nào hay không?
Đây là lý do một hồ sơ thuộc diện miễn đôi khi vẫn cần phân tích pháp lý khá kỹ trước khi sử dụng.
VI. NGƯỜI CÓ VĂN BẰNG ĐƯỢC MIỄN CÓ PHẢI LÀM “HỒ SƠ XIN MIỄN” KHÔNG?
Thông tư 65 không thiết lập một thủ tục hành chính riêng có tên “thủ tục xin miễn công nhận văn bằng”.
Khoản 4 Điều 6 quy định trực tiếp những trường hợp được miễn thực hiện thủ tục công nhận.
Vì vậy, về mặt cấu trúc của Thông tư, trước tiên cần xác định văn bằng có thuộc trường hợp miễn hay không, chứ không phải mặc nhiên chuẩn bị một bộ hồ sơ công nhận thông thường rồi đề nghị cơ quan công nhận “cho miễn”.
Tuy nhiên, Điều 2 Thông tư 65 cũng xác định công nhận văn bằng là dịch vụ công được thực hiện theo nhu cầu của người có văn bằng hoặc tổ chức sử dụng lao động khi có sự đồng ý của người có văn bằng.
Do đó, với từng mục đích sử dụng cụ thể, nếu còn vướng mắc về cách áp dụng diện miễn hoặc cơ quan tiếp nhận cần làm rõ giá trị của văn bằng, cần xem xét đúng nhu cầu và cơ chế pháp lý tương ứng thay vì suy diễn rằng “được miễn” đồng nghĩa mọi tình huống sử dụng đều tự giải quyết.
VII. KINH NGHIỆM HT LEGAL VN: VĂN BẰNG ĐƯỢC MIỄN VẪN NÊN CÓ “HỒ SƠ SỬ DỤNG VÀ XÁC MINH”
Đây không phải là bộ hồ sơ bắt buộc do khoản 4 Điều 6 quy định.
Đây là cách HT Legal VN đề xuất để người có văn bằng chủ động chuẩn bị khi cơ quan, trường học, đơn vị tuyển dụng hoặc tổ chức tiếp nhận cần kiểm tra văn bằng.
Một bộ tài liệu có thể được rà soát theo các nhóm:
- Văn bằng gốc, bản sao và bản dịch phù hợp;
- tài liệu hoặc đường dẫn chính thức giúp xác minh văn bằng, người được cấp và cơ sở cấp bằng;
- toàn văn hiệp định, thỏa thuận hoặc điều ước quốc tế liên quan và điều khoản xác định đúng loại văn bằng, nếu đi theo diện điều ước quốc tế;
- tài liệu chứng minh loại văn bằng đáp ứng đặc điểm mà điều ước yêu cầu, nếu điều ước có đặt ra tiêu chí như văn bằng chuẩn quốc gia;
- tài liệu từ cơ sở giáo dục hoặc cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận tính xác thực, hợp pháp, hợp lệ khi hồ sơ khó xác minh;
- văn bản giải trình ngắn xác định căn cứ thuộc diện miễn và phạm vi giá trị của văn bằng trong trường hợp cơ quan tiếp nhận cần làm rõ.
Điểm quan trọng là không biến danh mục kinh nghiệm này thành “thành phần hồ sơ pháp luật bắt buộc”.
Mỗi trường hợp chỉ nên chuẩn bị những tài liệu thực sự liên quan đến nút pháp lý hoặc nút xác minh của văn bằng đó.
VIII. NẾU CƠ QUAN TIẾP NHẬN VẪN YÊU CẦU “GIẤY CÔNG NHẬN” THÌ XỬ LÝ THẾ NÀO?
Đây là tình huống có thể phát sinh trong thực tế, đặc biệt trong giai đoạn chuyển tiếp khi cơ chế mới vừa có hiệu lực.
Theo kinh nghiệm của HT Legal VN, không nên chỉ trả lời:
“Luật nói tôi được miễn nên cơ quan phải nhận.”
Cách xử lý phù hợp hơn là trước hết xác định chính xác:
- Văn bằng có thật sự thuộc khoản 4 Điều 6 hay không?
- Nếu thuộc điều ước quốc tế thì điều khoản nào bao phủ chính loại văn bằng đó?
- Cơ quan tiếp nhận yêu cầu Giấy công nhận cho mục đích gì?
- Yêu cầu này xuất phát từ quy định pháp luật, quy trình chuyên ngành hay do cơ quan cần thêm cơ sở xác minh?
Sau đó mới cung cấp căn cứ về diện miễn và bộ tài liệu xác minh phù hợp; trường hợp còn cách hiểu khác nhau thì có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn đối với vấn đề cụ thể.
Không nên biến một vấn đề có thể giải quyết bằng xác minh thành một hồ sơ công nhận không cần thiết; nhưng cũng không nên tự kết luận mình thuộc diện miễn nếu chưa kiểm tra đầy đủ căn cứ.
IX. ĐẶC BIỆT LƯU Ý GIAI ĐOẠN TRƯỚC VÀ SAU NGÀY 26/9/2026
Thông tư 65 được ban hành ngày 11/8/2026 nhưng đến ngày 26/9/2026 mới có hiệu lực.
Điều 9 Thông tư 65 quy định hồ sơ công nhận văn bằng đã nộp trước ngày Thông tư có hiệu lực tiếp tục áp dụng theo hệ thống quy định cũ được nêu tại điều khoản chuyển tiếp.
Vì vậy, đối với hồ sơ đang cân nhắc xử lý trong giai đoạn chuyển tiếp, thời điểm nộp có thể là một yếu tố cần xem xét.
Không nên mặc định: Nộp trước luôn tốt hơn.
Cũng không nên mặc định: Chờ Thông tư mới thì chắc chắn được công nhận.
Cần xác định chính hồ sơ đang vướng điều kiện nào và quy định mới có thực sự thay đổi vấn đề đó hay không.
X. KINH NGHIỆM CỦA HT LEGAL VN: 5 CÂU HỎI TRƯỚC KHI KẾT LUẬN “ĐƯỢC MIỄN”

Đối với một văn bằng nước ngoài có khả năng thuộc diện miễn, HT Legal VN thường đi theo trình tự:
Thứ nhất: Văn bằng thuộc nhóm nào tại khoản 4 Điều 6?
Thứ hai: Nếu dựa vào điều ước quốc tế, chính loại văn bằng này có nằm trong phạm vi điều ước hay không?
Thứ ba: Điều ước quy định giá trị của văn bằng như thế nào và có vấn đề về thời điểm áp dụng, điều kiện hoặc chuyển tiếp hay không?
Thứ tư: Văn bằng hiện có đủ cơ sở để xác minh tính hợp pháp, hợp lệ hay chưa?
Thứ năm: Người có văn bằng cần sử dụng cho mục đích gì và cơ quan tiếp nhận cần loại thông tin hoặc xác minh nào?
Chỉ sau khi trả lời được những câu hỏi đó mới nên lựa chọn phương án:
sử dụng theo diện miễn; chuẩn bị thêm tài liệu xác minh; đề nghị cơ quan nước ngoài xác nhận; hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam hướng dẫn nếu có vấn đề pháp lý chưa rõ.
KẾT LUẬN
Từ ngày 26/9/2026, Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT quy định lại khá đáng kể về miễn thực hiện thủ tục công nhận văn bằng nước ngoài.
Điểm cần chú ý không chỉ là số lượng nhóm được miễn thay đổi.
Quan trọng hơn là cách tiếp cận hồ sơ đã thay đổi: khoản 4 Điều 6 không còn lặp lại bộ điều kiện riêng của khoản 2 Điều 5 Thông tư 13/2021, đồng thời quy định trực tiếp rằng việc miễn thủ tục không loại bỏ quyền và trách nhiệm kiểm tra, xác minh tính hợp pháp, hợp lệ của văn bằng.
Do đó, câu hỏi đúng không nên chỉ là:
“Tôi có được miễn công nhận không?”
Mà phải đi thêm một bước:
“Căn cứ nào xác định văn bằng của tôi thuộc diện miễn, phạm vi giá trị của văn bằng là gì và tôi đã có đủ tài liệu để chứng minh điều đó khi sử dụng chưa?”
Đối với các hồ sơ liên quan đến điều ước quốc tế, văn bằng cấp từ nhiều năm trước, tên học vị đặc thù hoặc khó xác minh, đây có thể chính là phần quan trọng nhất của quá trình xử lý.
HT Legal VN – Hiệu quả ♎ Tín thác.
Bài viết cung cấp thông tin pháp lý chung. Việc xác định một văn bằng cụ thể có thuộc diện miễn thực hiện thủ tục công nhận hay không cần căn cứ vào chính văn bằng, quy định pháp luật, nội dung và phạm vi của điều ước quốc tế có liên quan, thời điểm áp dụng và tài liệu xác minh thực tế.
Căn cứ pháp lý chính: Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT ngày 11/8/2026; Thông tư số 13/2021/TT-BGDĐT được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 07/2024/TT-BGDĐT.

Công nhận văn bằng